BÀI 173: SÁCH TIÊN TRI XA-CHA-RI – KHẢI TƯỢNG

0

Nếu theo dõi suốt chương trình Thánh Kinh Lược Khảo thì quý vị biết rằng chúng ta gần kết thúc nữa phần đầu của chương trình nầy. Hiện này chúng ta đang học về những vị tiên tri trong Cựu Ước. Kính mời quý độc giả cùng lắng nghe Lời Chúa qua sách của Tiên tri Xa-cha-ri. (Xa-cha-ri 2)

1 Ta lại ngước mắt lên và nhìn xem; kìa, một người cầm dây đo trong tay. 
2 Ta bèn nói cùng người rằng: Ông đi đâu? Người đáp rằng: Ta đi đo Giê-ru-sa-lem, để xem bề rộng và bề dài nó là bao nhiêu.
3 Nầy, thiên sứ đương nói cùng ta bèn đi ra, và một thiên sứ khác đi ra đón người,
 4 và bảo người rằng: Hãy chạy nói cùng người trai trẻ đó rằng: Giê-ru-sa-lem sẽ có dân cư và như làng không có tường thành, vì cớ rất đông người và súc vật ở giữa nó. 
5 Vì ta, Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ làm tường bằng lửa chung quanh nó, và sẽ làm sự vinh hiển ở giữa nó.
6 Đức Giê-hô-va phán: Hè hè! Các ngươi khá trốn, khá trốn khỏi đất phương bắc; vì ta đã làm cho các ngươi tan tác như bốn gió của trời, Đức Giê-hô-va phán vậy. 7 Hỡi Si-ôn ở với con gái Ba-by-lôn, hè, ngươi khá trốn đi!

Xa-cha-ri là vị tiên tri thứ hai trong số ba vị tiên tri xuất hiện sau thời kỳ lưu đày. Đây cũng là ba vị tiên tri sau cùng của Cựu Ước. Họ là A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi. Trong bộ ba nầy thì A-ghê và Xa-cha-ri nên được khảo sát chung với nhau vì họ sống đồng thời, giảng cùng lúc, chia sẻ cùng mục đích. Cả hai đều hồi hương trong lần thứ nhất dưới sự lãnh đạo của quan trấn thủ Xô-rô-ba-bên và thầy tế lễ cả Giê-hô-sua. Họ trở về để xây dựng lại đền thờ theo sắc lịnh của Si-ru đại đế.

Ma-la-chi, vị tiên tri thứ ba xuất hiện sau A-ghê và Ma-la-chi khoảng 100 năm. Các học giả tin rằng Ma-la-chi hành chức vào khoảng 10 năm sau khi Nê-hê-mi xây bức tường chung quanh Giê-ru-sa-lem. Chúng tôi xin phép được nhắc lại là có cả thảy ba lần hồi hương. Lần thứ nhất dưới sự lãnh đạo của quan trấn thủ Xô-rô-ba-bên và thầy tế lễ cả Giê-hô-sua. Bảy mươi chín năm sau đó, E-xơ-ra lãnh đạo lần hồi hương thứ nhì. Ông là người quan tâm đến phần tâm linh của dân chúng bằng cách đem Lời Chúa đến với họ sau khi đền thờ được xây cất xong. Cuối cùng là đợt hồi hương do Nê-hê-mi dẫn đầu, ông trở về để xây bức tường thành chung quanh đền thờ và thành Giê-ru-sa-lem.

Các học giả tin rằng Ma-la-chi xuất hiện khoảng 10 năm sau khi Nê-hê-mi xây lại bức tường thành. Lập luận của họ dựa vào chỗ là sách Ma-la-chi và Nê-hê-mi có những điểm tương đồng. E-xơ-ra và Nê-hê-mi sống cùng thời với nhau, nhưng vì E-xơ-ra và Nê-hê-mi không đề cập gì đến Ma-la-chi nên các nhà nghiên cứu giả định rằng Ma-la-chi hành chức 10 năm sau thời của E-xơ-ra và Nê-hê-mi. Tuy nhiên, Ma-la-chi xuất hiện sau A-ghê và Xa-cha-ri khoảng 100 năm. Đó là lý do khiến chúng ta nên học về hai tiên tri A-ghê và Xa-cha-ri chung với nhau. Họ cùng trở về từ Ba-by-lôn lần đầu tiên, chức vụ họ có chung một mục đích là rao giảng về việc xây dựng lại đền thờ. Đó là công việc của Đức Chúa Trời tại thời điểm nầy. Công việc Chúa đã bị đình trệ vì sự bắt bớ của những kẻ thù sống ngay trên lãnh thổ của họ. Đứng trước sự đe dọa của kẻ thù họ nao núng và run sợ nên bỏ dở công việc trong suốt 15 năm. Trước tình hình đó A-ghê và Xa-cha-ri đã lên tiếng. Dầu có chung mục đích nhưng họ có cách thức khác nhau để đạt đến mục đích nầy.

Điều cần lưu ý là A-ghê lớn tuổi hơn Xa-cha-ri. Để hiểu công tác và chức vụ của hai vị tiên tri, chúng ta cần biết về tinh thần của người Giu-đa lúc nầy. Khi trở về cố hương không những thành phố của họ chỉ là một đống hoang tàn đổ nát, mà chính đời sống của họ cũng ngổn ngang trăm mối. Trong lúc họ nỗ lực bắt đầu từ khó khăn và gian khổ thì tinh thần của họ ở mức rất thấp. Vậy cho dầu sắc lịnh hồi hương là một phép lạ nhưng sự trở về của họ không phải lắm huy hoàng.

Sứ điệp của A-ghê và Xa-cha-ri là sứ điệp hy vọng. Khi người Giu-đa trở về để xây lại đền thờ, hy vọng duy nhất của họ đến từ các vị tiên tri nầy. Các tiên tri rao giảng rằng Đức Chúa Trời sẽ khôi phục lại cơ đồ cho họ, vì Chúa ở với họ nên họ vẫn có hy vọng trong tương lai. Ngoài sứ điệp hy vọng từ các tiên tri thì họ không còn có hy vọng nào khác. Khi đặt mình vào vị trí của họ, quý vị sẽ thấy tương lai của họ rất ảm đạm. Họ không có gì để trông đợi khi bắt tay xây dựng đền thờ.

A-ghê là người rất thực tế. Ông nói với đồng bào của mình rằng, “Hãy điều chỉnh lại thứ tự ưu tiên, đặt Chúa vào hàng đầu, nhà Chúa vào hàng đầu và công việc Chúa vào hàng đầu. Hãy vững vàng và tiếp tục xây dựng. Hãy hoàn thành công việc mà anh em đang dở dang.” Ngày nay, chúng ta gọi ông là vị tiên tri có đầu óc thực tiễn. Ông không phải là mẫu người lý thuyết mà là người thực hành. Ông khích lệ dân chúng hoàn thành công việc. Để hưởng ứng sứ điệp của ông họ đã đứng lên để xây dựng lại đền thờ.

Mặc dầu có cùng chung một mục tiêu với A-ghê, nhưng cách giảng của Xa-cha-ri rất khác biệt. Thể văn của những sách tiên tri nầy rất hay. Lấy ví dụ lối hành văn của Ha-ba-cúc rất độc đáo. Ông trình bày sứ điệp theo cách đối thoại giữa ông với Đức Chúa Trời.

Xa-cha-ri cũng có một lối trình bày sứ điệp cách đặc biệt. Nếu A-ghê nói với dân chúng rằng, “Hãy mạnh mẽ để làm công việc tái thiết đền thờ.” thì Xa-cha-ri cho biết làm thế nào để có sức mạnh đó. Đối với Xa-cha-ri thì khải tượng chính là bí quyết của sức mạnh. Một khi dân chúng có khải tượng thì họ sẽ có sức mạnh. Sa-lô-môn nói rằng, “Nơi đâu không có khải tượng, dân sự bị tiêu diệt.” Sa-lô-môn muốn nói gì? Ông có ý cho biết nếu dân sự không thấy điều không thể thấy, nếu họ không thấy Đức Chúa Trời không thể thấy, nếu họ không có khải tượng Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào thì họ sẽ không thể mạnh mẽ được. Họ sẽ bị mất tinh thần, sẽ dễ dàng khuất phục trước khó khăn, rồi rơi vào buồn chán và tuyệt vọng, từ đó họ không sao hoàn thành công việc được.

Hai vị tiên tri nầy kết hợp với nhau rất hài hòa. A-ghê thì thực tế khuyến khích mọi người hãy mạnh mẽ và làm việc. Còn Xa-cha-ri thì bổ sung sứ điệp của A-ghê theo một cách khác, ông nói “Nhưng họ sẽ không thể mạnh mẽ được và không thể làm việc được cho đến khi họ thấy Đức Chúa Trời. Những gì họ cần là một khải tượng về Đức Chúa Trời.”

Khi một người ở trong hoạn nạn hay thảm cảnh thì tất cả những gì họ thấy là nan đề và nan đề. Nếu quý vị đang có những khó khăn hoặc nan đề trong cuộc sống thì xin nhớ rằng những người chung quanh quý vị cũng có những nan đề riêng của họ. Nếu có dịp nói hết ra thì quý vị sẽ ngạc nhiên vì thấy những người quanh mình thật nhiều nan đề không khác gì chính mình.

Có câu chuyện kể về viên cảnh sát được huy động leo lên một cây cầu thật cao vì có một người đàn ông sắp nhảy xuống tự tử. Khi viên cảnh sát leo đến trên đỉnh để thuyết phục người đàn ông nầy thì họ thỏa thuận như sau. Người đàn ông định tự tử nói với viên cảnh sát như sau, “Xin ông cho biết 5 lý do vì sao tôi không nên tự tử và tôi sẽ nói với ông 5 lý do vì sao tôi nên tự tử.” Viên cảnh sát nghe chí lý liền đưa ra 5 lý do vì sao không nên nhảy cầu tự tử. Nghe xong thì người đàn ông nêu lên 5 lý do vì sao anh tự tử. Nghe xong cả hai cùng nhảy xuống. Ai cũng có nan đề, người đàn ông tự tử có nan đề và viên cảnh sát cũng có nan đề.

Sứ điệp của Xa-cha-ri dành cho những người đang gặp hoạn nạn. Khi một người ở trong hoạn nạn thì tất cả những gì họ thấy đều là đen tối. Khi thảm cảnh xảy ra trong gia đình, một đứa con vừa qua đời hoặc quý vị mắc phải căn bịnh ngặt nghèo thì những gì quý vị cần lúc đó chính là một khải tượng. Quý vị cần khải tượng của Đức Chúa Trời. Quý vị cần thấy những điều không thể thấy được. Giống như Ha-ba-cúc, quý vị cần xây một vọng canh thuộc linh, và kiên nhẫn chờ đợi tại đó cho đến khi Đức Chúa Trời chỉ tỏ cho quý vị biết chương trình của Ngài trên đời sống của quý vị qua những thảm kịch đó. Quý vị cần nghe tiếng Chúa phán để hiểu được những gì Chúa đang làm.

Tại thời điểm mà dân Giu-đa trở về tái thiết đền thờ thì họ đã trải qua nhiều thảm cảnh. Chúng ta hãy nhìn theo khía cạnh lịch sử để thấy những gì người Giuda đang đối diện. Họ đã sống kiếp lưu đày trong 70 năm. Một số người trong vòng họ không biết gì khác hơn là những ngày tháng đọa đày tại xứ người. Một số khác có thể đã từng hiểu thế nào là tự do nhưng nay thì họ đã già lắm rồi. Hầu như mọi người trong vòng họ đều có thân nhân đã bị thảm sát khi Giê-ru-sa-lem bị thất thủ. Khi đày sang Ba-by-lôn, họ bị đối xử như là nô lệ trong vòng 70 năm. Tất cả nhuệ khí của họ đều tan thành mây khói. Một lý do duy nhất khiến họ trở về để tái thiết lại đền thờ là nhờ vào lòng khoan dung của chính quyền Mê-đi Ba Tư. Điều nầy lại càng khiến cho một người sùng đạo khó có thể chấp nhận được.

Khi ở trong sự khó khăn thì quý vị thấy gì? Đây là câu quan trọng mà Chúa thường hỏi các vị tiên tri. Nhiều lần chúng ta nghe Chúa hỏi họ rằng, “Hỡi Ê-li, ngươi thấy gì?” hoặc “Ngươi thấy gì, Ê-xê-chi-ên?” “Ngươi thấy gì A-mốt?Ngươi thấy gì?

Chúa Giê-xu cho biết thân thể của chúng ta hoặc là được sáng láng hoặc là đầy tối tăm tùy thuộc vào cách mà chúng ta trả lời câu hỏi đó. Chúa phán, “Con mắt là đèn của thân thể,” Chúa muốn nói đến cách mà chúng ta xem xét sự việc, hay là cái nhìn của chúng ta, khải tượng của chúng ta. Tùy cách chúng ta nhìn sự việc mà thân thể chúng ta được sáng láng cho dầu chung quanh hoàn cảnh thế nào đi chăng nữa. Đời sống của quý vị có thể được sáng hay đầy bóng tối tùy vào cái nhìn của quý vị. Quý vị có thể cầu xin Chúa làm cho đời sống mình đầy ánh sáng.

Tại thời điểm mà tinh thần đang xuống dốc, thì người Giu-đa cần nghe một điều gì đó tốt lành. Họ cần một tiên tri nhìn thấy Đức Chúa Trời, người có thể thấy những điều mà những người khác không thấy, để rồi tiên tri nầy sẽ nói với họ những gì mình đã thấy. Dân sự Đức Chúa Trời cần một tiên tri có khải tượng của Đức Chúa Trời và truyền đạt khải tượng đó cho họ. Tiên tri là như vậy, không phải lúc nào họ cũng sẵn sàng giáng những cơn thạnh nộ, phán xét mặc dầu đôi khi họ làm như vậy. Nhiều chỗ trong Kinh Thánh cho thấy họ nặng lời quở trách dân chúng, nhưng họ không dừng lại tại đây. Bên cạnh đó họ công bố sứ điệp hy vọng vì họ có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời trong khi những người khác không thể nhìn thấy. Giữa những thảm cảnh của cuộc đời, họ thấy được bàn tay của Đức Chúa Trời đang hành động. Một khi họ chia xẻ những gì họ thấy thì nó sẽ đem lại sự an ủi và hy vọng cho người khác. Đây là hy vọng duy nhất của người Giu-đa trong giai đoạn lịch sử nầy. Dân sự của Đức Chúa Trời cần một tiên tri có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời và khích lệ họ về những gì mình đã thấy. Đây là lý do vì sao Chúa sai Xa-cha-ri đến với họ. Đây cũng là cách mà Xa-cha-ri đem thông điệp của Đức Chúa Trời đến với đồng bào của mình.

Quý vị đang sống với hy vọng không? Có phải mọi sự xảy ra ngoài ý muốn của quý vị và trở nên tồi tệ không? Xin học biết Chúa trong mọi hoàn cảnh và nhìn sự việc theo ánh sáng của Lời Chúa. Chúa giê-xu đã đến để chúng ta có hy vọng thật và niềm vui trọn vẹn.

Nguồn: Đài Xuyên Thế Giới

Bài trướcChúa Nói Trước Về Thương Khó và Phục Sinh – 1/4/2026