Chủ Nhật 01/11/2026
Trang chủ Thánh Kinh Lược Khảo BÀI 180: SÁCH MA-LA-CHI – BẢY ĐIỂM DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG XUỐNG...

BÀI 180: SÁCH MA-LA-CHI – BẢY ĐIỂM DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG XUỐNG DỐC THUỘC LINH

0

Ma-la-chi chia sẻ cho chúng ta 7 điểm dẫn đến tình trạng kiệt quệ thuộc linh. Bài trước nói về 3 điểm, đó là nghi ngờ tình yêu thương của Đức Chúa Trời, đặt vấn đề về giá trị công việc Chúa và không giữ đúng cam kết đối với Chúa cũng như với người.

Trước khi đi vào điểm thứ tư, chúng ta sẽ ôn lại điểm thứ ba. Một khi nghi ngờ tình yêu của Chúa thì dân Giu-đa thấy công việc Chúa trở nên nặng nề, khó nhọc, từ đây họ không còn giữ đúng cam kết với Chúa cũng như với người chung quanh. Quý vị sẽ nghiệm thấy rằng lòng trung thành của quý vị đối với Chúa là nền tảng cho lòng trung thành của quý vị đối với người khác. Nếu quan hệ của quý vị đối với Chúa được ổn thỏa, lòng của quý vị trung thành đối với Chúa thì công việc quý vị làm và quan hệ của quý vị đối với những người chung quanh sẽ là kết quả của mối quan hệ đối với Đức Chúa Trời. Nhưng nếu có điều gì bất ổn trong mối quan hệ với Chúa thì quan hệ của quý vị đối với người khác cũng như lòng trung thành của quý vị đối với họ sẽ bị dao động.

Người quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta là người vợ hay chồng. Chúng ta chung sống với họ cả đời trong một mái gia đình. Đề cập đến vấn đề ly dị, Ma-la-chi nói với quý ông rằng, “Khi ngươi không xem trọng cam kết của mình đối với Đức Chúa Trời thì bước tiếp theo là ngươi không còn xem trọng cam kết của ngươi đối với vợ ngươi.” Một khi người Giu-đa ly dị vợ mình, thì đây là sự kiện chứng tỏ rằng họ không còn giữ lời cam kết đối với Đức Chúa Trời.

Hôn nhân dựa trên điều gì? Tại sao nhiều người muốn cử hành lễ cưới long trọng tại nhà thờ? Yêu Chúa có nghĩa gì? Yêu vợ hoặc yêu chồng có nghĩa gì? Một người trưởng thành sẽ hiểu rằng, yêu thương là một thái độ cam kết. Chúng ta cam kết yêu Chúa, chúng ta cam kết trước mặt Chúa là sẽ yêu vợ hoặc chồng mình. Điều này không tùy thuộc vào việc chúng ta cảm thấy họ như thế nào, chúng ta yêu họ vì chúng ta đã cam kết như vậy. Chúng ta cam kết yêu họ cho dầu họ thế nào đi chăng nữa, yêu với tình yêu vô điều kiện và yêu bằng tình yêu không bị tàn phai.

Đó chính là ý nghĩa của tình yêu. Nếu có trục trặc xảy ra trong mối quan hệ yêu thương theo chiều đứng, nghĩa là tình yêu của quý vị đối với Đức Chúa Trời, thì nó sẽ biểu lộ qua những gãy đổ trong mối quan hệ theo chiều ngang, nghĩa là quan hệ của quý vị đối với những người chung quanh.

Có vài cặp không ngần ngại hỏi vị Mục sư hành lễ cưới cho họ rằng, “Thưa Mục sư, Mục sư có thể làm lễ cưới cho chúng tôi mà không cần đến lời hứa nguyện giữa chúng tôi không?” Mục sư hỏi họ, “Tại sao anh chị muốn làm lễ cưới trong nhà thờ?” Họ đáp vì chúng tôi muốn có một đám cưới theo nghi thức của tín hữu Tin Lành.” Vậy thì ý nghĩa của đám cưới giữa hai người cùng niềm tin nơi Chúa là thế nào? Đây là mối liên hệ yêu thương, một cam kết yêu thương. Trước tiên, cam kết này bắt đầu với Chúa. Một khi chúng ta đã có được nền tảng nầy thì chúng ta có tình yêu đối với người và giữ cam kết với người.

Nguyên nhân thứ ba dẫn đến tình trạng nguội lạnh với Đức Chúa Trời đó là chủ nghĩa tương đối. Nói dễ hiểu có nghĩa là không có điều gì đúng, điều gì sai, đạo đức chỉ là tương đối. Để xoa dịu lương tâm vì phá vỡ lời cam kết, thì dân sự của Chúa đặt vấn đề liệu có cái gì là đúng, liệu có cái gì là sai không. Một khi con cái Chúa không xem trọng sự cam kết với người khác, thì họ bắt đầu tìm cách bào chữa cho hành động đó. Mọi sự chỉ là tương đối, không có gì là đúng, không có gì là sai. Mở đầu cuộc hội nghị cho những người làm việc với thanh thiếu niên phạm pháp, một người lãnh đạo tuyên bố, “Xin quý ông bà nhớ cho là thời nay không có gì là tuyệt đối cả.” Một trong những người tham dự liền phát biểu, “Thưa bác sĩ, tôi vừa giúp đỡ một thiếu nữ 14 tuổi đang mang thai. Việc mang thai này là tuyệt đối chứ không tương đối gì cả. Vậy tại sao bác sĩ nói với các bạn trẻ rằng không có gì là tuyệt đối.” Hậu quả của những hành động của chúng ta là tuyệt đối, nó là tuyệt đối tốt hay tuyệt đối xấu. Nếu có những hậu quả, hoặc tốt hoặc xấu, hiển nhiên như vậy thì chắc chắn phải có những tiêu chuẩn hoặc đúng hoặc sai rất phân minh.

Ngày nay con người cho rằng đạo đức chỉ mang tính chất tương đối. Điều này cũng chẳng mới mẻ gì. Đây là vấn đề mà tiên tri Ma-la-chi đã nói đến đương thời ông. Kinh Thánh dạy rằng có một tiêu chuẩn đạo đức tuyệt đối. Có những điều được xem là đúng và có những điều được xem là sai. Một khi Đức Chúa Trời nói điều này đúng là vì hậu quả của nó tốt. Ngài phán điều kia sai là do hậu quả của nó xấu. Vì hậu quả hoặc tốt hoặc xấu nên có một tiêu chuẩn đạo đức hẳn hoi. Khi con người sống buông thả thì họ phải tìm cách bào chữa để cho rằng chẳng có gì là đúng, chẳng có gì là sai. Đây là lối sống của người Giu-đa đương thời Ma-la-chi.

Dấu hiệu thứ năm của tình trạng xuống dốc thuộc linh đó là chúng ta bắt đầu lấy bớt đi số dâng phần mười và các của dâng khác. Chúng tôi nghĩ rằng Ma-la-chi không chỉ nói đến của dâng phần mười hằng tuần mà còn đề cập đến việc lạm dụng hoặc biển thủ quỹ dâng hiến.

Dấu hiệu thứ sáu của một tấm lòng nguội lạnh đối với Chúa đó là sự ly khai đức tin. Người đó lìa khỏi cộng đoàn dân Chúa và công việc Chúa. Họ không còn đi nhà thờ và giữ mối liên hệ với anh em trong Chúa. Không còn yêu Chúa, không còn quan tâm đến công việc Chúa và không còn gần gũi với anh em trong Chúa. Dấu hiệu thứ bảy đó là người nguội lạnh với Chúa sẽ bày tỏ sự cay đắng và định kiến sai lầm bằng cách nói rằng, “Những kẻ kiêu ngạo thì được phước.” Thái độ nguội lạnh bắt đầu với chỗ không còn yêu Chúa, nghi ngờ tình yêu của Ngài. Từ đó, họ xem công việc Chúa trở nên buồn tẻ và nặng nhọc vì không còn động lực chính đáng để hầu việc Ngài. Thêm một bước là người đó sẽ không còn giữ đúng lời cam kết với những người khác vì họ không còn giữ cam kết với Chúa. Để bào chữa cho các hành động này, người đó sẽ đưa ra một lý thuyết tương đối, nghĩa là không có gì đúng, chẳng có gì sai, mọi sự chỉ là tương đối. Từ đây thì họ không còn trung tín trong việc dâng hiến hay dâng phần mười cho Chúa nữa. Cuối cùng là lìa bỏ đức tin và phát biểu rằng, “Kẻ kiêu ngạo được phước.” Kinh Thánh dạy rằng, “Đức Chúa Trời ghét kẻ kiêu ngạo, Đức Chúa Trời chống kẻ kiêu ngạo. Nhưng Chúa yêu người khiêm nhường và ban ơn cho họ. Chúa nghiêm khắc sửa phạt kẻ kiêu ngạo vì Ngài ghét tội này nhất. Kiêu ngạo là tội căn bản của mọi tội. Ma-la-chi muốn nói rằng một khi các ngươi nguội lạnh với Đức Chúa Trời, các ngươi sẽ nói, sẽ giảng những điều hoàn toàn xa cách với Lời Chúa.

Nhiều Hội Thánh ngày nay công nhận việc đồng tính luyến ái, thậm chí họ còn phong chức cho những người như vậy. Chúng ta nên có lòng cảm thương với những người như vậy. Tuy nhiên, vấn đề là người ta cho rằng đồng tính luyến ái không phải là tội, đồng tính luyến ái không phải là sai trái, đó chỉ là vấn đề sở thích của mỗi cá nhân mà thôi.

Chúng ta kinh ngạc khi người đời cho rằng đồng tính luyến ái là đúng, nhưng chúng ta còn kinh ngạc hơn khi nhiều Hội Thánh cũng đồng tình cho rằng đồng tính luyến ái là đúng. Khi họ cử hành hôn lễ cho những người đồng tính luyến ái, họ đã công bố rằng đồng tính luyến ái là sinh hoạt bình thường và cái mà một thời gọi là tội thì bây giờ được Đức Chúa Trời chấp thuận. Khi Hội Thánh phong chức cho những người đồng tính luyến ái thì đây là cách mà Hội Thánh cho rằng đồng tính luyến ái là một mẫu mực đáng noi theo. Theo Ma-la-chi thì đây là cách nhiều Hội Thánh đang nói rằng “Phước cho kẻ kiêu ngạo.”

Tại sao Hội Thánh lại lâm vào tình trạng này? Tại sao Hội Thánh lại giảng rằng đồng tính luyến ái là đúng? Ma-la-chi đã giảng rằng qua hôn nhân, Chúa kết hợp hai người lại với nhau, họ trở thành vợ chồng, sinh sản con cái, đóng vai trò cha mẹ để nuôi dưỡng con cái nên người. Sự kết hợp giữa người nam và người nữ đi theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Như vậy, đồng tính luyến ái hoàn toàn không có chỗ đứng trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Ngài tuyên bố rằng đồng tính luyến ái là tội lỗi.

Ngày nay rất ít người công nhận đồng tính luyến ái là điều sai trật vì quan niệm phổ thông cho rằng “Không có điều gì là đúng hoặc sai, không có điều gọi là tiêu chuẩn đạo đức tuyệt đối. Người ta chấp nhận điều này để biện minh cho các hành động sai quấy của mình. Đây cũng là điều mà Ma-la-chi đã phải đương đầu với tình trạng nguội lạnh của người Giu-đa đối với Đức Chúa Trời.

Ma-la-chi kết thúc với lời tiên tri về Đấng Mê-si. Nhiều vị tiên tri nói về Đấng Mê-si. Ê-sai đề cập nhiều nhất, sau đó là Xa-cha-ri. Họ cho biết Đấng Mê-si là giải pháp toàn hảo của Đức Chúa Trời đối với mọi nan đề của con người. Ma-la-chi giới thiệu một nhân vật sẽ xuất hiện trong Tân Ước, đó là Giăng Báp-tít. Đây không phải là Sứ đồ Giăng, người viết sách Tin Lành Giăng và Khải Huyền, nhưng là Giăng, người làm phép báp-têm. Giăng Báp-tít là một tiên tri. Chúa Giê-xu khẳng định rằng ông là vị tiên tri lớn nhất. Không một vị tiên tri nào trong Cựu Ước có thể so với Giăng Báp-tít. Ông là người hân hạnh giới thiệu Chúa Giê-xu cho đồng bào mình rằng “Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi của cả thế gian.”

Theo Ma-la-chi thì Giăng Báp-tít sẽ được sai đến trước Đấng Mê-si. Giăng là người đi tiên phong để dọn đường cho sự hiện đến của Đấng Mê-si. Làm thế nào để chuẩn bị đón tiếp Đấng Mê-si? Câu trả lời của Ma-la-chi là một sự dạy dỗ quý báu liên quan đến gia đình, ông nói, Ma-la-chi 4,

6  Người sẽ làm cho lòng cha trở lại cùng con cái, lòng con cái trở lại cùng cha

Theo Ma-la-chi thì đây là cách để chuẩn bị lòng dân sự Đức Chúa Trời. Thưa quý vị, làm cha thật là một thách thức lớn lao cho chúng ta, những người đang gánh trọng trách này. Khi Chúa Giê-xu dạy chúng ta cầu nguyện với Đức Chúa Trời là “Lạy Cha của chúng con”, thì Ngài đã xem trách nhiệm làm cha thật là quan trọng. Theo lời của Ma-la-chi thì khi Giăng Báp-tít đến, ông sẽ làm công tác chuẩn bị để người Do Thái tiếp nhận Đấng Mê-si. Ông làm điều này bằng cách đem cha với con trở lại với nhau. Khi mối liên hệ giữa cha với con và mối liên hệ giữa con với cha tốt đẹp, thì đây là cách để chuẩn bị dân sự của Ngài nghinh tiếp Đấng Mê-si.

Ma-la-chi cũng cho biết việc nhập thế của Đấng Mê-si vừa đem đến phước hạnh vừa đem đến sự phán xét. Bốn trăm năm sau đó, người Do Thái đã gặp Đấng Mê-si. Một số người trong vòng họ ném đá Ngài, đóng đinh Ngài, một số tin Ngài, trở nên môn đồ của Ngài và sẵn sàng chịu chết vì Ngài.

Sứ điệp của Cựu Ước có thể được kết thúc như sau: “Giê-xu Christ hay Đấng Mê-si sẽ đến.” Đây cũng là cách mà Ma-la-chi đã kết thúc sách của mình. Giải pháp cho những ai đang có tấm lòng hờ hững đối với Đức Chúa Trời đó là Chúa Giê-xu. Quý vị có biết Ngài không? Quý vị có mối liên hệ với Ngài không? Chúa yêu quý vị và Ngài mong chờ tình yêu của quý vị.

Nguồn: Đài Xuyên Thế Giới

Bài trướcSống Khôn Ngoan Trong Thời Đại AI (3)