Thứ Bảy 01/08/2026
Trang chủ Thánh Kinh Lược Khảo BÀI 177: SÁCH MA-LA-CHI – ĐÁP TRẢ

BÀI 177: SÁCH MA-LA-CHI – ĐÁP TRẢ

1

 

Nê-hê-mi hồi hương từ xứ Ba-by-lôn vào đợt thứ ba, ông vừa là người lãnh đạo về mặt hành chánh vừa là người lãnh đạo về mặt thuộc linh. Việc chính của ông là xây dựng bức tường chung quanh Giê-ru-sa-lem. Đây cũng là khoảng thời gian Ma-la-chi thi hành chức vụ Để hiểu được bối cảnh lịch sử của sách Ma-la-chi, kính mời quí thính giả lắng nghe Lời Chúa qua sách Nê-hê-mi: (13)

23 Cũng trong lúc đó, tôi thấy những người Giu-đa lấy đàn bà Ách-đốt, Am-môn, và Mô-áp, làm vợ;
24 con cái của chúng nó nói phần nửa tiếng Ách-đốt, không biết nói tiếng Giu-đa, nhưng nói tùy theo tiếng của dân nầy hay là dân kia.
25 Tôi quở trách chúng nó, rủa sả chúng nó, đánh đập một vài người trong chúng nó, nhổ tóc chúng nó, biểu chúng nó chỉ Đức Chúa Trời thề, mà rằng: Các người sẽ không gả con gái mình cho con trai họ, hay là cưới con gái họ cho con trai mình, hoặc là cưới cho chánh mình các ngươi!

Đây là phong cách lãnh đạo khá độc đáo của Nê-hê-mi. Lúc bấy giờ người Giu-đa cưới gả với dân ngoại. Hậu quả là con cái họ không thể nói tiếng Hê-bê-rơ là tiếng nói của tuyển dân Đức Chúa Trời. Tình trạng ly dị và nhiều nan đề xã hội khác xảy ra trong thời của Nê-hê-mi. Sở dĩ chúng tôi trích phân đoạn trên vì tiên tri  Ma-la-chi sống vào thời của Nê-hê-mi. Ma-la-chi đã đề cập đến những nan đề giống như Nê-hê-mi. Tôi xin phép được nhắc lại là các vị tiên tri Cựu Ước được chia làm 3 thành phần: thành phần trước khi bị lưu đày, trong khi bị lưu đày và sau khi bị lưu đày. Ba vị tiên tri A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi là ba vị tiên tri sau thời kỳ bị lưu đày. Họ hành chức sau khi dân Giu-đa hồi hương từ xứ lưu đày Ba-by-lôn. A-ghê và Xa-cha-ri hành chức vào những ngày đầu của cuộc hồi hương. Mục đích của họ là khích lệ dân sự trong việc xây dựng lại đền thờ. A-ghê rất thực tế. Ông rao giảng rằng, “Hãy mạnh mẽ và tiến hành việc tái thiết đền thờ.” Nhưng Xa-cha-ri đi sâu hơn khi nói rằng, “Bí quyết của sức mạnh là nhìn thấy Đức Chúa Trời.” Một trăm năm sau đó, Ma-la-chi xuất hiện. Ông hành chức sau Nê-hê-mi và E-xơ-ra khoảng 10 năm, nhưng cả hai Nê-hê-mi và E-xơ-ra đều không đề cập đến Ma-la-chi. Nê-hê-mi và Ma-la-chi nói đến một nan đề xã hội lúc bấy giờ. Mặc dầu có biện pháp rất mạnh nhưng Nê-hê-mi không thể giải quyết nan đề đó. Nó tiếp tục còn cho đến 10 năm sau, là lúc mà Ma-la-chi xuất hiện và rao giảng Lời Chúa.

Nan đề mà Nê-hê-mi và Ma-la-chi đối diện không giống như nan đề trước khi người Giu-đa bị lưu đày sang Ba-by-lôn. Trước khi bị lưu đày, họ phạm tội thờ lạy thần tượng và tội dâm loạn đi đôi với việc thờ thần tượng. Nhưng sau 70 năm bị lưu đày thì họ không còn tái phạm tội thờ thần tượng nữa. Họ đã học thuộc bài. Giê-rê-mi cho biết Chúa giống như người thợ gốm, Ngài thấy họ không trở thành chiếc bình theo ý muốn của Ngài nên Chúa ném vỡ và làm nên chiếc bình mới. Ông muốn nói rằng Chúa sẽ ném họ bị đày làm nô lệ, nhưng sau khi hồi hương họ sẽ thành chiếc bình mới. Thật vậy, họ đã trở thành chiếc bình mới. Điều nầy không có nghĩa là họ không còn phạm tội, hay trở nên toàn hảo vì Nê-hê-mi, E-xơ-ra và Ma-la-chi vẫn nêu lên các tội của họ. Nhưng điểm đáng khen là họ không còn bị lâm vào tội thờ thần tượng và dâm loạn nữa.

Tội mà Ma-la-chi đề cập đến là tội bội đạo. Nếu để ý chúng ta thấy rằng Ma-la-chi không giảng cho nước Y-sơ-ra-ên phía bắc hoặc nước Giu-đa phía nam. Ông chỉ đơn giản đề cập đến tuyển dân của Đức Chúa Trời. Ma-la-chi rao giảng cho dân sự của Đức Chúa Trời, những người mà hiện nay đang nguội lạnh với Ngài. Bội đạo có nghĩa là “Đứng cách xa khỏi chỗ mà trước đây mình đứng.” Họ đã xa cách Đức Chúa Trời. Bội đạo là tội phổ thông xuyên suốt Kinh Thánh, nó cũng là tội phổ thông của con cái Chúa ngày nay. Sứ điệp của Ma-la-chi rất hợp cho thời đại chúng ta vì nan đề Ma-la-chi đối diện cũng là nan đề mà ngày nay chúng ta đối diện. Ngày nay nhiều Hội Thánh hiểu rất đúng về Kinh Thánh và thần học, nhưng về phương diện tâm linh thì họ đang chết. Họ có hình thức, có tổ chức, nhưng không có sự sống. Hình ảnh nầy giống như một xác chết vậy. Chính thống nhưng đang chết đó là nan đề mà Ma-la-chi đề cập đến trong sách của ông.

Ma-la-chi là một tiên tri có lối trình bày rất hay và độc đáo. Ha-ba-cúc trình bày sứ điệp qua cuộc đối thoại với Đức Chúa Trời. Xa-cha-ri trình bày sứ điệp qua khải tượng, hay sự nhìn thấy Đức Chúa Trời. Ma-la-chi trình bày sứ điệp qua cách đối chất từ phía người nghe.

Có vị giáo sĩ tại New Guinea cố gắng học ngôn ngữ và lối sống của một bộ lạc bán khai. Đêm kia họ ngồi quanh đống lửa hồng, bỗng một cậu bé trai khoảng 5 tuổi đến với cha mình và rồi họ nói qua nói lại với nhau. Sau khi đứa con nói xong thì người cha đột ngột nắm lấy cổ đứa bé, tay kia thì ông nhét cát vào miệng nó. Đứa bé ho sặc sụa và phun cát ra ngoài. Vị giáo sĩ hỏi người cha chuyện gì vậy thì người cha trả lời, đứa con trai của ông không lắng nghe, nhưng ông nói điều gì thì nó đáp trả và bác bỏ điều đó.

Đây chính là thể văn đáp trả của sách Ma-la-chi. Ma-la-chi có sứ điệp cho dân sự của Chúa, nhưng mỗi lần ông nói điều gì thì họ đều đáp trả lại. Họ đã làm như vậy đến 8 lần.

Là các bậc cha mẹ, quí vị sẽ thấy điều nầy nơi những đứa con vào lứa tuổi thiếu niên. Những bậc cha mẹ kinh nghiệm và khôn ngoan không tìm cách lý luận với con mình. Họ yêu cầu con họ phải làm việc nầy việc kia mà không phải tốn thì giờ để tranh luận với chúng.

Kính mời quí thính giả lắng nghe Lời Chúa qua sách Ma-la-chi, (Ma-la-chi 1)

1 Gánh nặng lời Đức Giê-hô-va cho Y-sơ-ra-ên bởi Ma-la-chi.
2 Đức Giê-hô-va có phán: Ta yêu các ngươi; và các ngươi nói rằng: Chúa yêu chúng tôi ở đâu? Đức Giê-hô-va phán: Ê-sau há chẳng phải là anh Gia-cốp sao?
3 Nhưng ta yêu Gia-cốp, mà ghét Ê-sau, ta làm cho những núi nó nên hoang vu, và phó sản nghiệp nó cho những chó nơi đồng vắng.
4 Nếu Ê-đôm nói rằng: Chúng ta đã bị hủy diệt, song chúng ta sẽ trở về dựng lại những nơi đổ nát, thì Đức Giê-hô-va vạn quân cũng phán rằng: Chúng nó sẽ dựng lại, nhưng ta sẽ đổ xuống, người ta sẽ gọi chúng nó là Cõi độc ác, và là dân mà Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng đời đời.
5 Mắt các ngươi sẽ thấy, và các ngươi sẽ nói rằng: Nguyền Đức Giê-hô-va là lớn ngoài cõi Y-sơ-ra-ên!

Khi Chúa nói với dân sự của Ngài rằng “Ngài yêu họ” thì họ đặt ngược vấn đề: “Chúa yêu chúng tôi ở đâu?” Nghiên cứu các vị tiên tri Cựu Ước, chúng ta nhận thấy rằng họ không phải chỉ là những người thường nặng lời quở trách, lên án. Nhưng thật ra họ là tiên tri mang đến sứ điệp hy vọng. Mỗi sách tiên tri đều kết thúc sứ điệp trong hy vọng. Đây là hy vọng duy nhất của dân sự Đức Chúa Trời. Đi đôi với sứ điệp hy vọng là sứ điệp của tình yêu. Các tiên tri đã trình bày tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với dân Giu-đa. Theo họ thì vì Chúa yêu dân của Ngài nên Ngài mới để họ lưu lạc qua Ba-by-lôn và cũng vì yêu họ nên Ngài đã đem họ trở về quê cha đất tổ. Nhiều người nghĩ rằng Cựu Ước không cho thấy một Đức Chúa Trời yêu thương, nhưng chỉ đến Tân ước thì chúng ta mới thấy bản chất yêu thương của Ngài. Thật ra Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương từ thời Sáng Thế Ký cho đến Khải Huyền.

Chúa muốn nói qua Ma-la-chi rằng, “Ta yêu các ngươi,” Chúng ta có hiểu về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta không? Kinh Thánh dạy rằng chúng ta cần biết Chúa. Những bậc vĩ nhân trong Kinh Thánh bày tỏ lòng ước ao biết Chúa càng hơn. Nhưng một mặt khác Kinh Thánh dạy rằng Chúa biết chúng ta. Thi Thiên 139, Đa-vít nói “Chúa biết mỗi lần ông thức giấc, mỗi lần ông nằm nghỉ. Chúa biết từng sợi tóc trên đầu ông. Chúa biết từng ngày trong đời sống của ông.” Chúa biết quí vị. Đây là một lẽ thật hết sức quan trọng. Quí vị nghĩ thế nào nếu vị chủ tịch nhà nước biết quí vị, gọi đích danh của quí vị. Há không phải là một điều cảm động sao? Chúng ta cần biết Chúa, nhưng xét ngược lại thì Chúa biết chúng ta. Đức Chúa Trời, Đấng tạo hóa của cả vũ trụ nầy biết mỗi chúng ta cách chi tiết.

Kinh Thánh dạy rằng chúng ta phải yêu mến Chúa. Đây là một lẽ thật quan trọng vì điều răn thứ nhất và lớn hơn hết là yêu Chúa với tất cả tấm lòng, tâm trí và sức lực. Nhưng Kinh Thánh cũng trình bày một lẽ thật tuyệt diệu hơn, Đức Chúa Trời yêu quí vị. Đức Chúa Trời yêu quí vị. Chúng ta cần ghi nhớ rằng Đức Chúa Trời yêu chúng ta.

Một Mục sư hỏi các vị quan tòa và những nhà điều trị tâm thần rằng, “Quí vị đã từng gặp những trường hợp nào xem ra vô vọng chăng?” Vị quan tòa trả lời, “Vâng, có một người đàn ông, hầu như suốt đời không được ai yêu và do đó ông cũng không thể yêu ai được. Đây là một trường hợp thật tuyệt vọng.” Thế rồi người khác hỏi vì sao ông hành chức Mục sư? Ông đáp, “Vì tôi có một sứ điệp cho con người tuyệt vọng đó.” Viên quan tòa hỏi, “Sứ điệp gì vậy?” Mục sư trả lời, “Đức Chúa Trời yêu thương ông.” Vị quan tòa nhìn chăm một hồi lâu rồi nói, “Nếu ông có thể nói cho tù nhân kia biết được chân lý nầy, thì quả thật ông đã có một sứ điệp cho con người khốn khổ đó.”

Nếu không ai yêu quí vị, nếu quí vị chưa bao giờ được yêu, quí vị sẽ không thể yêu người khác được. Nhiều người đã trở thành kẻ sát nhân vì họ không được ai yêu thương. Nếu quí vị biết rằng Chúa yêu quí vị và kinh nghiệm được tình yêu của Ngài thì quí vị không còn sống trong tuyệt vọng nữa.

Đây là sứ điệp mà Ma-la-chi muốn truyền đạt cho người Giu-đa. Lời Chúa phán rằng, “Ta yêu ngươi.” Nhưng họ đáp lại bằng cách đặt vấn đề, “Thật vậy sao? Ngài yêu chúng tôi khi nào? Chúng tôi không tin rằng Ngài yêu chúng tôi.”

Nhiều hôn nhân đã kết thúc trong tan vỡ vì người chồng không tin rằng người vợ yêu mình. Dù cho người vợ có nói thế nào đi chăng nữa thì ông chồng vẫn không tin. Người chồng tự nhủ rằng, “Không ai yêu tôi. Tôi không đáng để người khác yêu. Tôi không tin rằng ai yêu tôi cả.” Đức Chúa Trời cố gắng khôi phục đời sống tâm linh của họ bằng cách nói rằng, “Ta yêu ngươi.” Nhưng người Giu-đa chỉ chất vấn ngược lại và phủ nhận tình yêu của Ngài dành cho họ.

Trước khi chấm dứt tôi xin phép được hỏi quí vị, Quí vị có tin rằng Đức Chúa Trời toàn năng yêu quí vị không? Quí vị có tin rằng, Chúa Giê-xu yêu quí vị vì Kinh Thánh đã dạy như vậy không? Có ai đã nói với quí vị điều nầy chưa? Có ai đã từng là ống dẫn để đem tình yêu của Chúa đến với quí vị chưa?

Một câu Kinh Thánh rất quen thuộc với nhiều người, “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban con một của Ngài hầu cho hễ ai tin con ấy không bị hư mất bao giờ mà được sự sống đời đời.” Bây giờ xin quí vị hãy điền tên của quí vị vào đó. Nếu quí vị tên Hùng thì câu nầy sẽ được đọc lại như sau: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương Hùng, đến nỗi đã ban con một của Ngài hầu cho hễ Hùng tin con ấy Hùng không bị hư mất bao giờ mà được sự sống đời đời.” Câu Kinh Thánh nầy khẳng định tình yêu của Chúa dành cho mỗi chúng ta. Có người không những kinh nghiệm tình yêu của Chúa mà còn kinh nghiệm tình yêu từ các tín hữu khác. Những tín hữu nầy không những là môi miệng của Chúa mà còn là ống dẫn tình yêu của Ngài. Xin cho phép tôi được hỏi quí thính giả, Quí vị có phải là ống dẫn để đem tình yêu của Chúa đến với những người chung quanh quí vị không?

Nguồn: Đài Xuyên Thế Giới

Bài trướcSống Công Chính qua Tình Yêu Thương – 1/8/2026