Đây là bài học thứ ba của sách tiên tri Ma-la-chi. Ma-la-chi đối phó với những nan đề xã hội giống như Nê-hê-mi, vì thế, nếu muốn hiểu tình trạng đạo đức và thuộc linh vào thời Ma-la-chi, chúng ta nên đọc hai sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi. Nan đề đương thời của Ma-la-chi là thái độ lạnh nhạt của dân Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời. Nhiều Mục sư, Truyền đạo, nhiều tín hữu trở nên lạnh nhạt với Đức Chúa Trời. Phản nghĩa của yêu thương không phải là ghét mà là thái độ lãnh đạm.
Có một người tên Sa-mu-ên, Ông rất tin kính Chúa. Vào một sáng thứ Hai kia, ông quỳ gối trước mặt Chúa, khóc lóc, cầu nguyện và xưng tội. Cánh cửa hé mở, người thư ký của ông không khỏi tò mò lắng nghe ông cầu nguyện, dường như Sa-mu-ên đang xưng một tội gì ghê gớm lắm. Thì ra ông xin Chúa tha tội vì thái độ xa cách với Chúa sáng hôm đó. Đối với ông thì đây là tội nghiêm trọng.
Ngày nay không có nhiều người như Sa-mu-ên. Họ không xem thái độ hờ hững đối với Chúa là tội. Nhưng Ma-la-chi cho biết đó là tội trọng. Lời Chúa phán qua Ma-la-chi như sau: “Ta yêu ngươi, ta muốn có mối liên hệ yêu thương với ngươi. Ta biết ngươi và ta muốn ngươi biết ta. Ta muốn ngươi yêu ta, nhưng lòng ngươi nguội lạnh đối với ta.” Khải Huyền chương 4 trình bày một cảnh tượng của thiên đàng. Đây là một trong những chỗ trong Kinh Thánh ghi chép về thiên đàng. Kinh Thánh có dạy về thiên đàng nhưng rất ít. Có một ngôi trên thiên đàng và hai mươi bốn trưởng lão. Các trưởng lão này đại diện cho thành phần lãnh đạo dân sự của Đức Chúa Trời. Một số người cho rằng các trưởng lão đại diện cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên và 12 vị sứ đồ. Nhưng có lẽ hình ảnh đó chỉ về những người lãnh đạo giống như hệ thống lãnh đạo mà Đa-vít đã thực hiện trong Cựu Ước. Đa-vít đã chia các thầy tế lễ ra thành những phân ban khác nhau. Mỗi phân ban gồm 24 người. Vì vậy, 24 trưởng lão quanh ngôi có thể chỉ về những người lãnh đạo thuộc linh.
Có bốn điểm nói về những vị trưởng lão này. Họ mặc áo trắng, đầu đội mão triều thiên vàng, tay cầm bình vàng đầy hương là những lời cầu nguyện của các thánh đồ và cuối cùng là mỗi người đều có cây đàn. Bốn vật trên đều có ý nghĩa. Áo trắng hàm ý họ đã hầu việc Chúa một cách tốt đẹp cho đến cuối cùng. Nhiều người lãnh đạo đã vấp ngã vào chặng cuối của cuộc đua. Mão triều thiên vàng hàm ý họ là người chiến thắng. Họ đã hoàn thành các sứ mạng Chúa giao. Bình vàng đựng hương là lời cầu nguyện của các thánh đồ dành cho họ. Đây là lý do giải thích vì sao họ đã thành công: nhờ vào lời cầu nguyện của các thánh đồ. Quý vị có cầu nguyện cho Mục sư của mình không? Quý vị có cầu nguyện cho những người hướng dẫn thuộc linh của mình không?
Có một tín hữu rời Hội Thánh suốt 17 năm. Sau đó, khi trở lại để thăm vị Mục sư quản nhiệm thì họ đã tâm tình với Mục sư của mình như sau: “Không có một ngày nào mà chúng tôi không cầu nguyện cho Mục sư. Mỗi lần điểm tâm thì chúng tôi lại cầu nguyện đích danh cho ông.” Đây là lý do vì sao nhiều người lãnh đạo thuộc linh đã chạy xong cuộc đua, hoàn thành xong nhiệm vụ. Họ nhờ vào lời cầu nguyện của các tín hữu, giống như thứ hương của các thánh đồ.
Điều thứ tư là mỗi trưởng lão đều có cây đàn. Cây đàn là biểu tượng cho sự thờ phượng và cầu nguyện. Bình vàng đầy hương chỉ về những lời cầu nguyện của người khác cho họ và cây đàn cho biết chính họ cũng là những chiến sĩ cầu nguyện. Họ là những người tôn thờ Chúa. Đây là lý do khiến họ chạy đến đích và đoạt giải. Những người làm việc lớn cho Chúa là những người đã dành thì giờ thờ lạy Chúa. Đây là ý nghĩa của chiếc đàn nơi tay của các vị trưởng lão.
Ma-la-chi nặng lòng về tình trạng nguội lạnh của dân sự đối với Đức Chúa Trời. Ông biết là tình trạng này khiến họ ở vào vị thế rất nguy hiểm. Ma-la-chi muốn nói với họ rằng, “Nếu các ngươi bỏ qua và coi thường sự thờ phượng thì các ngươi sẽ trở nên bội đạo, các ngươi sẽ bị dẫn đến tình trạng kiệt quệ và hoàn toàn băng giá về phương diện thuộc linh. Khi tình trạng đó xảy ra thì các ngươi lại đặt vấn đề vì sao như vậy.” Ma-la-chi nói với họ rằng, “Ta sẽ cho các ngươi biết nó khởi sự từ đâu. Nó bắt đầu từ khi các ngươi không còn hướng lòng thờ phượng Đức Chúa Trời nữa. Các ngươi phải sống trong mối quan hệ yêu thương với Đức Chúa Trời và điều này biểu hiện qua việc các ngươi sốt sắng trong sự thờ phượng Chúa. Một khi ngươi đánh mất điều đó thì ngươi sẽ trở nên lạnh nhạt với Đức Chúa Trời. Khi thôi thờ phượng Chúa là lúc ngươi bắt đầu đi xuống dốc.” Theo Giáo sư James thì bảy mẩu đối thoại giữa Chúa với dân sự Ngài là những lời đối thoại của một tấm lòng băng giá đối với Đức Chúa Trời. Những bài giảng của Ma-la-chi được xem là những lời đáp trả của dân Giu-đa đối với Đức Chúa Trời của họ. Đức Chúa Trời đóng vai trò của bậc cha mẹ, còn dân sự là con cái. Cứ mỗi lần Chúa muốn nói với họ điều gì thì họ luôn luôn tìm cách đáp trả lại thay vì lắng nghe và tiếp nhận. Từ những mẩu đối thoại này, chúng ta rút ra bảy chỉ dẫn cho những người đang ở trong tình trạng kiệt quệ tâm linh. Vì sao Mục sư, Truyền đạo và dân sự của Đức Chúa Trời lâm vào tình trạng ngã lòng bỏ cuộc?
Nguyên nhân thứ nhất dẫn đến tình trạng ngã lòng bỏ cuộc đó là do chúng ta nghi ngờ về tình yêu thương của Chúa dành cho chúng ta, dĩ nhiên, điều này liên quan đến tình yêu của chúng ta đối với Chúa. Khi tôi không còn yêu Chúa nữa thì tôi cũng sẽ tự hỏi liệu Chúa còn yêu tôi nữa không? Điều quan trọng, rất quan trọng từ phần đầu của sách Ma-la-chi, đó là nhận thức rằng Chúa yêu tôi, vì một người được yêu sẽ cảm nhận được giá trị về chính mình. Nếu ai đó yêu thương tôi, điều này có nghĩa là tôi có một giá trị nào đó. Nếu không ai thèm yêu tôi thì tôi tự thấy mình không có giá trị gì cả. Có thể tôi sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng và thấy mình chỉ là con số không to tướng. Bước thứ nhất để đi xa khỏi Chúa là nghi ngờ tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho mình. Nếu tôi đang nghi ngờ về tình yêu của Chúa dành cho tôi, thì điều này có nghĩa là có điều gì đó không ổn trong tình yêu của tôi dành cho Ngài.
Sau khi nghi ngờ về tình yêu của Chúa dành cho họ, những người sống trong tình trạng hờ hững đối với Đức Chúa Trời cho rằng công việc Chúa thật là buồn tẻ và khó khăn. Họ dao động và không hết lòng đối với Chúa và công việc mà Ngài đã kêu gọi họ. Họ lâm vào chỗ không còn có một động cơ gì để làm công việc Chúa.
Một khung chữ ghi như sau: “Bạn đang làm việc nhiều quá hay động cơ bạn thấp quá.” Động cơ là điều rất quan trọng đối với công việc Chúa. Thái độ của quý vị đối với công việc Chúa giao là thế nào? Nếu quý vị nghi ngờ về tình yêu của Chúa dành cho quý vị, và nếu quý vị không còn yêu Chúa nữa, điều đó sẽ ảnh hưởng đến thái độ của quý vị đối với công việc Chúa.
Điều gì là động cơ chính đáng đối với công việc của Đức Chúa Trời? Sứ đồ Phao-lô trả lời câu hỏi đó. Phao-lô là người có động cơ rất mạnh mẽ. Nếu đọc những cuốn sách ông viết, chúng ta sẽ thấy điều gì đã khiến ông quên mình và dấn thân một cách trọn vẹn. Động cơ thúc đẩy ông được chép trong 2 Cor 5, “Tình yêu thương của Đấng Christ ràng buộc tôi.” Phao-lô là người làm việc nhiều hơn hết trong lịch sử của Hội Thánh. Điều gì khiến ông hăng say phục vụ Chúa? Đó là tình yêu của ông đối với Đấng Christ và tình yêu của Đấng Christ đối với những người hư mất đã khuấy động ông.
Tại phòng cao Chúa Giê-xu đã phán rằng, (Giăng 14)
7 Ví bằng các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy Ngài.
8 Phi-líp thưa rằng: Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ rồi.
9 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi Phi-líp, ta ở cùng các ngươi đã lâu thay, mà ngươi chưa biết ta! Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha. Sao ngươi lại nói rằng: Xin chỉ Cha cho chúng tôi?
10 Ngươi há không tin rằng ta ở trong Cha và Cha ở trong ta, hay sao? Những lời ta nói với các ngươi, chẳng phải ta tự nói; ấy là Cha ở trong ta, chính Ngài làm trọn việc riêng của Ngài.
11 Khi ta nói rằng ta ở trong Cha và Cha ở trong ta, thì hãy tin ta; bằng chẳng, hãy tin bởi công việc ta.
12 Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm; lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì ta đi về cùng Cha.
13 Các ngươi nhân danh ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, ta sẽ làm cho, để Cha được sáng danh nơi Con.
14 Nếu các ngươi nhân danh ta xin điều chi, ta sẽ làm cho.
15 Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta.
16 Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời,
17 tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi.
18 Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi.
19 Còn ít lâu, thế gian chẳng thấy ta nữa, nhưng các ngươi sẽ thấy ta; vì ta sống thì các ngươi cũng sẽ sống.
20 Nội ngày đó, các ngươi sẽ nhận biết rằng ta ở trong Cha ta; các ngươi ở trong ta, và ta ở trong các ngươi.
21 Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta; người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người, và tỏ cho người biết ta.
Đây là cách mà công việc Chúa được thực hiện trên thế gian. Nếu quý vị đánh mất đi lòng yêu mến Chúa hay quý vị không còn tin rằng Chúa yêu mình nữa thì chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng đến thái độ của quý vị đối với công việc Chúa. Công việc Chúa sẽ trở nên buồn tẻ và đầy khó khăn đối với quý vị.
Một người nghi ngờ tình yêu của Chúa và xem công việc Chúa là gánh nặng buồn chán thì người đó sẽ dần dần quên đi những gì mình hứa nguyện với Chúa và những gì mình hứa nguyện với người khác. Đối với người Giu-đa thời bấy giờ, mối quan hệ vợ chồng đã tan vỡ, họ không còn giữ lời cam kết với nhau. Nếu họ không còn giữ lời cam kết với Chúa thì họ cũng sẽ không giữ lời cam kết với nhau.
Quý vị sẽ nghiệm thấy rằng lòng trung thành của quý vị đối với Chúa là nền tảng cho lòng trung thành của quý vị đối với người khác. Nếu quan hệ của quý vị đối với Chúa được ổn thỏa, lòng của quý vị trung thành đối với Chúa thì công việc quý vị làm và quan hệ của quý vị đối với những người chung quanh sẽ là kết quả của mối quan hệ đối với Đức Chúa Trời. Nhưng nếu có điều gì bất ổn trong mối quan hệ với Chúa thì quan hệ của quý vị đối với người khác cũng như lòng trung thành của quý vị đối với họ sẽ bị dao động.
Người quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta là người vợ hay chồng. Chúng ta chung sống với họ cả đời trong một mái gia đình. Đề cập đến vấn đề ly dị, Ma-la-chi nói với quý ông rằng, “Khi ngươi không xem trọng cam kết của mình đối với Đức Chúa Trời thì bước tiếp theo là ngươi không còn xem trọng cam kết của ngươi đối với vợ ngươi.” Một khi người Giu-đa ly dị vợ mình, thì đây là sự kiện chứng tỏ rằng họ không còn giữ lời cam kết đối với Đức Chúa Trời.
Hôn nhân dựa trên điều gì? Tại sao nhiều hôn lễ được cử hành long trọng tại nhà thờ? Yêu Chúa có nghĩa gì? Yêu vợ hoặc yêu chồng có nghĩa gì? Một người trưởng thành sẽ hiểu rằng, yêu thương là một thái độ cam kết. Chúng ta cam kết yêu Chúa, chúng ta cam kết trước mặt Chúa là sẽ yêu vợ hoặc chồng mình. Điều này không tùy thuộc vào việc chúng ta cảm thấy họ như thế nào, chúng ta yêu họ vì chúng ta đã cam kết như vậy. Chúng ta cam kết yêu họ cho dầu họ thế nào đi chăng nữa, yêu với tình yêu vô điều kiện và yêu bằng tình yêu không bị tàn phai.
Đó chính là ý nghĩa của tình yêu. Nếu có trục trặc xảy ra trong mối quan hệ yêu thương theo chiều đứng, nghĩa là tình yêu của quý vị đối với Đức Chúa Trời, thì nó sẽ biểu lộ qua những gãy đổ trong mối quan hệ theo chiều ngang, nghĩa là quan hệ của quý vị với những người chung quanh.
Kính mời quý độc giả theo dõi lần đến để tìm hiểu thêm về những điều đã dẫn đến tình trạng ngã lòng bỏ cuộc.
Nguồn: Đài Xuyên Thế Giới




























